CHÀO MỪNG QUÝ KHÁCH ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - HIỆN TẠI WEBSITE ĐANG ĐƯỢC NÂNG CẤP
 
Pháp luật 19 Tháng Chín 2011 4:20:00 CH

Đề cương giới thiệu luật khám bệnh, chữa bệnh

 

Ngày 23 tháng 11 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã chính thức thông qua Luật khám bệnh, chữa bệnh và ngày 04 tháng 12 năm 2009, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này số 17/2009/L-CTN . Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnh - một vấn đề then chốt trong hoạt động y tế.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT

1. Thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh:

Đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của sức khoẻ con người trong quá trình đổi mới, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ  Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1] .

Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải thực hiện nhất quán một trong những quan điểm cơ bản là “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”[2] .  

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng công tác khám bệnh, chữa bệnh nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân và quan điểm này cần phải thể chế hóa bằng pháp luật, trong đó có Luật khám bệnh, chữa bệnh.

2. Đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác khám bệnh, chữa bệnh hiện nay

Trong những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, trong đó có lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn. Một số dịch bệnh mới như viêm phổi cấp (SARS), dịch cúm A (H5N1) ở người đã được ngăn chặn, khắc phục nhanh. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở đã được củng cố và phát triển; đã có 97,9 % xã trong cả nước có trạm y tế, 66,5 trạm y tế có bác sỹ. Nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đầu tư, nâng cấp, nhiều kỹ thuật y học cao được áp dụng và mở rộng đến tuyến tỉnh như hỗ trợ sinh sản, ghép thận, gan, phẫu thuật tim hở, nong mạch vành, phẫu thuật nội soi, chẩn đoán hình ảnh… đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân [3]. Chế độ khám bệnh, chữa bệnh cho người nghèo, khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện. Đến nay, "Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm 2000 xuống 21,2% năm 2007; tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi còn 16%. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 67,8 tuổi đã nâng lên 72,84 tuổi vào năm 2007"[4]

Bên cạnh các kết quả đạt được trên đây, công tác khám bệnh, chữa bệnh vẫn còn một số tồn tại sau :

- Mô hình bệnh tật ở nước ta được phân loại theo 3 nhóm (nhiễm trùng, không nhiễm trùng và tai nạn, thương tích). Nhóm bệnh không nhiễm trùng chiếm tỷ trọng mắc bệnh cao nhất là 60,61%, nhóm bệnh nhiễm trùng vẫn còn phổ biến và chiếm tỷ trọng mắc bệnh trên 27,0%, nhóm bệnh do tai nạn thương tích chiếm tỷ trọng mắc bệnh là 11,95%. Tình trạng ngộ độc thực phẩm còn cao, hàng năm có từ 1,3 - 1,5 triệu người ngộ độc; tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm do sử dụng hóa chất; tình hình sức khỏe công nhân và bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động vẫn còn cao[5]  nên đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuận lợi, đa dạng và hiệu quả phải hết sức kịp thời.

- Hiện nay, tính trên cả nước, trong khu vực Nhà nước có 13.439 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có 953 bệnh viện công với gần 202.941 giường bệnh[6], được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sở vật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu. Ở khu vực tư nhân, đến nay, cả nước đã có 84 bệnh viện tư nhân với trên tổng số 5.158 giường bệnh; hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân. Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công do chưa có quy định điều kiện cụ thể để cấp giấy phép hoạt động nên nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã không đạt điều kiện, đặc biệt là cơ sở vật chất, xử lý chất thải y tế. Trong khi đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân muốn hoạt động được phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được cấp phép. Do đó, cần thiết phải có cơ chế pháp lý về điều kiện cụ thể và cấp giấy phép hoạt động cho tất cả các cơ sở trên để bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế, khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh một cách hiệu quả, đồng đều.

- Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm 2007, ở nước ta, đến nay có 280.521 cán bộ y tế làm việc trong khu vực nhà nước (trong đó, 54.910 bác sỹ, 48.738 y sỹ, 1308 điều dưỡng viên đại học, 50.031 điều dưỡng viên trung học, 9.819 điều dưỡng viên sơ học, 18.109 nữ hộ sinh đại học và trung học, 2.133 nữ hộ sinh sơ học, 11.230 kỹ thuật viên y tế, 710 xét nghiệm viên và 677 lương y)[7] , chưa kể người đang hành nghề trong khu vực tư nhân. Việc cấp chứng chỉ hành nghề được thực hiện từ năm 1995 đối với người đứng đầu các cơ sở hành nghề y tư nhân (việc cấp này thông qua việc xét hồ sơ thuần túy của đối tượng hành nghề). Đối với các người trực tiếp hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân đều chưa thực hiện nên chất lượng của đội ngũ này cũng chưa đồng đều do Việt Nam chưa có hệ thống đăng ký, kiểm tra, cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát hoạt động cho người hành nghề.

3. Đáp ứng yêu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh

Hiện nay, các chế định pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh chủ yếu được quy định trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30/6/1989 (Chương khám bệnh, chữa bệnh, chương khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền), Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân. Qua đánh giá, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh còn các bất cập sau:

- Các quy định về khám bệnh, chữa bệnh trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn chung chung, mang tính nguyên tắc nên hiệu lực pháp luật không cao. Một số quy định đã được luật, pháp lệnh khác ban hành sau này điều chỉnh như bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi đã được quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày 28 tháng 4 năm 2000; về bảo vệ sức khoẻ thương binh, bệnh binh đã được quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 10 tháng 9 năm 2004; về bảo vệ sức khoẻ người tàn tật đã được quy định tại Pháp lệnh người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998; về thực hiện kế hoạch hóa gia đình đã được quy định trong Pháp lệnh Dân số ngày 22 tháng 01 năm 2003; về bảo vệ sức khoẻ trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15 tháng 6 năm 2004.... Do đó, chỉ còn các quy định về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, các quy định chuyên môn kỹ thuật y tế trong Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân là chưa được cụ thể hóa.

- Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân (Nội dung hành nghề dược tư nhân đã bị bãi bỏ bởi Luật Dược năm 2005 đã nhất thể hóa điều kiện hành nghề dược của Nhà nước với hành nghề dược tư nhân) nên Pháp lệnh này chỉ còn nội dung hành nghề y tư nhân, trong khi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước lại không quy định cụ thể. Do đó, Luật khám bệnh, chữa bệnh cũng phải nhất thể hóa điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước với hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, đồng thời bãi bỏ Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân sau khi Luật khám bệnh, chữa bệnh được ban hành và có hiệu lực.

- Các quy định về khám bệnh, chữa bệnh trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân được ban hành từ năm 1989 khi đất nước ta mới chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế cơ chế thị trường nên chưa đề cập đến các thành phần kinh tế khác tham gia vào công tác khám bệnh, chữa bệnh, chưa đề cập đến vấn đề xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, cũng như chưa tạo tiền đề pháp lý cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa khu vực khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và tư nhân thông qua việc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho mọi người hành nghề, cấp giấy phép hoạt động cho tất cả cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phân biệt Nhà nước hay tư nhân. 

- Các quy định về khám bệnh, chữa bệnh trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được ban hành gần 20 năm, từ đó đến nay, thực tiễn đã có nhiều thay đổi, một số quan hệ xã hội mới nảy sinh nhưng chưa có quy phạm pháp luật đồng bộ để điều chỉnh như quyền và nghĩa vụ của người bệnh, của người hành nghề và của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; công nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật và giải quyết khiếu nại của người bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh... Đây là các khoảng trống pháp luật cần phải được điều chỉnh. 

4. Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nên phải từng bước tuân thủ các hiệp định của Tổ chức này, trong đó có các dịch vụ y tế. Mặt khác, Việt Nam cũng đã ký kết Hiệp định khung về điều kiện hành nghề điều dưỡng giữa các nước ASEAN và sắp tới là Hiệp định khung về điều kiện hành nghề bác sỹ và nha sỹ... Do đó, Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định này để có cơ sở pháp lý thực hiện tại Việt Nam.

Từ các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, từ thực trạng công tác khám bệnh, chữa bệnh, thực trạng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh trên đây, việc ban hành Luật khám bệnh, chữa bệnh để cùng với các luật, pháp lệnh khác về y tế đã và sẽ ban hành để có một hệ thống pháp luật về y tế thống nhất, đồng bộ là hết sức cần thiết, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. 

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG LUẬT

1. Thể chế hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nói chung và trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh nói riêng.

2. Tổng kết kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian qua.

3. Chứng chỉ hành nghề sẽ được cấp cho mọi người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, giấy phép hoạt động sẽ được cấp cho mọi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, kể cả trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân, bảo đảm các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh này đều hoạt động trong một mặt bằng pháp luật bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử giữa hai khu vực Nhà nước và tư nhân.

4. Xã hội hóa hoạt động khám bệnh, chữa bệnh thông qua việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế.

5. Quản lý các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trên cơ sở tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và có sự tham gia tích cực của các hội nghề nghiệp, của người hành nghề, của người bệnh... để phù hợp với chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh và đáp ứng với yêu cầu hội nhập.

6. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi trong thực tế, bảo đảm yếu tố về bình đẳng giới.

  III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

Luật gồm 9 chương với 91 điều, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

1. Chương I - Những quy định chung gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; chính sách của nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh; trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh và những hành vi bị nghiêm cấm.

Nội dung quan trọng của Chương này là điều chỉnh một cách thống nhất toàn bộ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong khu vực khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và khu vực khám bệnh, chữa bệnh của tư nhân, tạo sự công bằng, bình đẳng giữa 2 khu vực này như: quy định về quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định chuyên môn kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh, từ đó đã tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa những người hành nghề và giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong khu vực nhà nước và khu vực tư nhân nhằm đáp ứng các yêu cầu của công tác khám bệnh, chữa bệnh. Bên cạnh đó, tại Điều 3 đã quy định 6 nguyên tắc cơ bản xuyên suốt toàn bộ nội dung của Luật. Đây là các nguyên tắc chủ đạo của công tác khám bệnh, chữa bệnh. Các nguyên tắc này được xây dựng theo hướng tiếp cận quyền của người bệnh, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người hành nghề, đặc biệt thể hiện bản chất nhân đạo của công tác khám bệnh, chữa bệnh.  Đặc biệt, Luật quy định 14 hành vi bị cấm trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh là: Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh; nghiêm cấm khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động (trừ trường hợp cấp cứu); nghiêm cấm thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động; cấm người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức (trừ bác sĩ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền); cấm áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sử dụng thuốc chưa được phép lưu hành; sử dụng hình thức mê tín trong khám bệnh, chữa bệnh; cấm quảng cáo không đúng với khả năng, trình độ chuyên môn hoặc quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động; cấm lợi dụng kiến thức y thức y học cổ truyền hoặc kiến thức y khoa khác để quảng cáo gian dối về phương pháp chữa bệnh, thuốc chữa bệnh; cấm gây tổn hại sức khoẻ, tính mạng, nhân phẩm của người hành nghề; cấm người hành nghề sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc có nồng độ cồn trong máu, hơi thở khi khám bệnh, chữa bệnh; cấm vi phạm quyền của người bệnh, không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể người bệnh; tẩy xoá, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh; ngăn cản người bệnh thuộc diện chữa bệnh bắt buộc vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc cố ý thực hiện chữa bệnh bắt buộc đối với người không thuộc diện chữa bệnh bắt buộc; cấm cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã; cấm đưa, nhận, môi giới hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh.

2. Chương II - Quyền và nghĩa vụ của người bệnh gồm 10 điều (từ Điều 7 đến Điều 16) được chia thành 2 mục:

a) Mục 1.  Quyền của người bệnh (từ Điều 7 đến Điều 13) bao gồm các quy định về quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế; quyền được tôn trọng bí mật riêng tư; quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh; quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh; quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh, chữa bệnh; quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quyền của người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. 

b) Mục 2. Nghĩa vụ của người bệnh (từ Điều 14 đến Điều 16) bao gồm các quy định về nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề; nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh, chữa bệnh và nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

Nội dung của Chương này được tiếp cận trên cơ sở quyền con người và đã đề cập đầy đủ đến quyền và nghĩa vụ của người bệnh. Những quy định này đã khắc phục được tình trạng các quy định trước đây tuy đã đề cập nhưng còn chung chung và mờ nhạt. Quyền của người bệnh được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và tham khảo các quy định tại Công ước Châu Âu về Nhân quyền và Y sinh học, Tuyên ngôn Helsinki của Hiệp hội y khoa Thế giới về nghiên cứu y sinh học (1964, bổ sung 1975, 1983, 1989) và Tuyên ngôn về những quyền của bệnh nhân của Hiệp hội y tế Thế giới (1995) để lựa chọn các quy định phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Điểm đặc biệt của chương này là mỗi quy định về quyền đều gắn chặt với nghĩa vụ mà người bệnh có nghĩa vụ phải thực hiện nhằm tránh sự lạm quyền, làm ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp của người hành nghề cũng như không tuân thủ nghiêm các quy định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

3. Chương III - Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh gồm 24 điều (từ Điều 17 đến Điều 40) được chia thành 4 mục:

a) Mục 1. Điều kiện đối với người hành nghề (từ Điều 17 đến Điều 25) quy định về người xin cấp chứng chỉ hành nghề; điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam; điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; điều kiện cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề; khám, chữa bệnh nhân đạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh, hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh, chữa bệnh; thừa nhận chứng chỉ hành nghề; sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xác nhận quá trình thực hành; chứng chỉ hành nghề.

b) Mục 2. Thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề (từ Điều 26 đến Điều 30) quy định về thẩm quyền cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề; hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề; thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề; thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề và lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

c) Mục 3. Quyền của người hành nghề (từ Điều 31 đến Điều 35) quy định về quyền được hành nghề; quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh; quyền được nâng cao năng lực chuyên môn; quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh và quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề.

d) Mục 4. Nghĩa vụ của người hành nghề (từ Điều 36 đến Điều 40) quy định về nghĩa vụ đối với người bệnh; nghĩa vụ đối với nghề nghiệp; nghĩa vụ đối với đồng nghiệp và nghĩa vụ đối với xã hội và nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp.

Các quy định tại Chương này đã thiết lập một cơ chế pháp lý rõ ràng bảo đảm nâng cao năng lực thực hành y khoa của người hành nghề, đặc biệt các quy định về điều kiện đối với người hành nghề đã được thống nhất đối với người hành nghề trong khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, đặc biệt là các quy định này đã tiếp cận được các chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh. Việc cấp chứng chỉ hành nghề được quy định bắt buộc thực hiện đối với mọi người hành nghề, bao gồm cả người hành nghề là người Việt Nam và người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài muốn hành nghề tại Việt Nam; đồng thời tại chương này cũng đưa ra quy định về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo để hợp pháp hóa việc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo tại Việt Nam của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, trong đó quy định giao cho Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị và thẩm quyền cho phép khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo. Bên cạnh đó, các quy định về nghĩa vụ của người hành nghề đã được quy định mở rộng hơn, ngoài việc quy định nghĩa vụ đối với bệnh nhân, các nghĩa vụ khác mà người thầy thuốc phải thực hiện như: Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp, nghĩa vụ đối với xã hội...đã được đề cập cụ thể. Ngoài ra, bên cạnh một loạt những trách nhiệm phải thực hiện trong hành nghề, người thầy thuốc rất cần được hưởng những quyền lợi chính đáng. Một điều không thể không đề cập đến, đó là nghề y rất dễ bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp, trong quá trình hành nghề, người hành nghề nào cũng có thể mắc lỗi, sai sót chuyên môn, kỹ thuật, nên họ có quyền được bảo vệ, đặc biệt cần được bảo hiểm rủi ro trách nhiệm. Vì vậy, vấn đề này cũng đã được đề cập trong mục quyền của người hành nghề.

4. Chương IV - Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gồm 13 điều (từ Điều 41 đến Điều 53) được chia thành 4 mục:

a) Mục 1. Hình thức tổ chức và điều kiện hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (từ Điều 41 đến Điều 44)  quy định về các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện để cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.  

b) Mục 2. Thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (từ Điều 45 đến Điều 49) quy định về thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; hồ sơ cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thu hồi và đình chỉ giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và lệ phí cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

c) Mục 3. Chứng nhận nâng cao chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 50 và Điều 51) quy định về chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; các tổ chức  chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

d) Mục 4. Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 52 và Điều 53)  quy định về quyền, trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Các quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại chương này chính là nền tảng để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt là các quy định về chứng nhận nâng cao chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhằm bảo đảm tính ổn định ở mức độ cao trong việc cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, chương này cũng quy định đầy đủ về quyền và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cùng với các quy định về quyền và nghĩa vụ của người hành nghề, đã nâng cao trách nhiệm của người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, đồng thời cũng bảo vệ cho người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong những trường hợp xảy ra rủi ro hoặc trong những trường hợp vượt quá khả năng, điều kiện thực tế mà không thể đáp ứng yêu cầu của người bệnh cũng như tình trạng bệnh.

 5. Chương V - Các quy định về chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh gồm 15 điều (từ Điều 54 đến Điều 68) bao gồm các quy định về cấp cứu; chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc; hội chẩn; điều trị ngoại trú; điều trị nội trú; hồ sơ bệnh án; sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có điều trị nội trú; thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa; kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; xử lý chất thải y tế; giải quyết đối với người bệnh không có người nhận; giải quyết đối với người bệnh tử vong; bắt buộc chữa bệnh; trực khám bệnh, chữa bệnh và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.

Nội dung của Chương này tập trung vào các quy định thuần túy về chuyên  môn, kỹ thuật được luật hóa từ các quy định dưới luật nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định trong thực tiễn. Đây chính là cơ sở thực tế cho việc bảo đảm về chuyên môn đối với quyền của người bệnh.  

6. Chương VI - Áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh gồm 4 Điều (từ Điều 69 đến Điều 72) quy định về  kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam; thẩm quyền cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới và hồ sơ, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh. Đây là nội dung rất mới được đưa vào Luật trên cơ sở những quy định đã được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn. Các quy định này đã phân định rõ các loại kỹ thuật, phương pháp mới được xem xét để cho phép áp dụng tại Việt Nam cũng như thẩm quyền cho phép áp dụng các kỹ thuật, phương pháp mới này.  

7. Chương VII - Sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh gồm 8 Điều (từ Điều 73 đến Điều 80) được chia thành 2 mục:

a) Mục 1. Sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (từ Điều 73 đến Điều 78)  quy định về xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật; thành lập hội đồng chuyên môn; thành phần, nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ của hội đồng chuyên môn; trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh; xác định mức bồi thường thiệt hại do sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh và bảo hiểm trách nhiệm trong trong khám bệnh, chữa bệnh.

b) Mục 2. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh (Điều 79 và Điều 80) quy định về khiếu nại, tố cáo về khám bệnh, chữa bệnh và tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh.

Các quy định tại Chương này đã đặt ra cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền của người bệnh cũng như quyền của người hành nghề trong khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời cũng nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt đã quy định cụ thể những trường hợp nào phải bồi thường, trường hợp nào không phải bồi thường thiệt hại cho người bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh. Tại Chương này cũng đưa ra những quy định về giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh, đây là những quy định mang tính đặc thù liên quan trực tiếp đến các hành vi chuyên môn kỹ thuật trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mà pháp luật hiện hành chưa đề cập một cách cụ thể.

8. Chương VIII- Các điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh gồm 9 điều (từ Điều 81 đến Điều 89) quy định về hệ thống tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; đào tạo, bồi dưỡng người hành nghề; chế độ đối với người hành nghề; các nguồn tài chính phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh; ngân sách nhà nước chi cho công tác y tế; xã hội hóa công tác khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh.

Nội dung của Chương này tập trung vào việc quy định cơ chế bảo đảm các nguồn lực nhằm bảo đảm thực hiện tốt công tác khám bệnh, chữa bệnh như tài chính, cơ sở vật chất, con người, chế độ đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh...

9. Chương IX - Điều khoản thi hành gồm 2 Điều (Điều 90 và Điều 91) quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết thi hành. Theo đó, Luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011; Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT

1.  Tuyên truyền, phổ biến Luật khám bệnh, chữa bệnh

-  Tổ chức các Hội nghị triển khai, tập huấn về Luật khám bệnh, chữa bệnh.

-  Biên soạn và in ấn sách, tài liệu; viết bài giới thiệu, tham luận về Luật khám bệnh, chữa bệnh  để đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

-  Tổ chức các buổi tọa đàm về Luật khám bệnh, chữa bệnh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

-  Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật khám bệnh, chữa bệnh.

2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh

a.  Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật khám bệnh, chữa bệnh.

-  Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 6 Điều 25, khoản 2 Điều 41, khoản 6 Điều 44 và khoản 3 Điều 51):

-  Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 2 Điều 78):

-  Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh.

-  Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bị mắc bệnh nghề nghiệp, bệnh do tai nạn rủi ro nghề nghiệp  (hướng dẫn khoản 4 Điều 83):

-  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

-   Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị và thẩm quyền cho phép cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tổ chức khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo hoặc chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh hoặc hợp tác đào tạo về y khoa có thực hành khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 3 Điều 21):

 -  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chí công nhận và việc kiểm tra, công nhận người biết tiếng Việt thành thạo hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 3 Điều 23):

-  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tiêu chuẩn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận sức khỏe  (hướng dẫn điểm d khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 52).

-  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn điểm a khoản 2 Điều 43).

-  Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định phân tuyến chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn điểm b khoản 5 Điều 60 và khoản 4 Điều 81).

- Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 4 Điều 68).

- Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện, thủ tục cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn khoản 4 Điều 68).

- Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (hướng dẫn Điều 40).

b. Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh hiện hành để đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Luật khám bệnh, chữa bệnh được Quốc hội thông qua là một sự kiện hết sức quan trọng, đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về khám bệnh, chữa bệnh, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong giai đoạn đổi mới hệ thống y tế hiện nay, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Luật khám bệnh, chữa bệnh về cơ bản đã đạt được các mục đích đặt ra, đó là bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh; nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; giảm phiền hà cho người bệnh; nâng cao tính sẵn có trong việc tiếp cận các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; xác định nền tảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh và là cơ sở pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề và với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.


[1]  Nghị quyết số 46 - NQ/TW ngày 25/02/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

[2] Nghị quyết số 46 - NQ/TW ngày 25/02/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

[3] Báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác y tế năm 2008 của Bộ Y tế ngày 28/12/2008.

[4]  Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế năm 2007.

[5] Quy hoạch hệ thống y tế năm 2007.

[6] Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế năm 2007 - tr. 43.

[7] Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế năm 2006 - tr 49.

 

(Mời xem: Chuyên trang về Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh)

 

 


Số lượt người xem: 3622    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Hợp đồng thế chấp
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Hơp đồng tặng cho nhà ở
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Nhận cha mẹ con có yếu tố nước ngoài
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Khai tử có yếu tố nước ngoài
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Khai sinh có yếu tố nước ngoài
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Khai nhận Di Sản Thừa Kế (Trường hợp 2)
  • Chương trình 10 phút tiếp dân - Khai nhận Di Sản Thừa Kế (Trường hợp 1)
  • Nhập Quốc tịch Việt Nam cho người không có quốc tịch (P3)
  • Lễ Kỷ Niệm 66 năm thành lập Ngành Tư pháp
  • Lập Di Chúc
  • Nhập Quốc tịch Việt Nam cho người không có quốc tịch (P2)
  • Nhập Quốc tịch Việt Nam cho người không có quốc tịch (P1)
  • Chuyện không của riêng ai - Vì sao phải nộp (P4)
  • Chuyện không của riêng ai – Vì sao phải nộp (P3)
  • Chuyện không của riêng ai – Vì sao phải nộp (P2)
  • Chuyện không của riêng ai – Vì sao phải nộp (P1)
  • - Tiểu phẩm hòa giải cơ sở: Con trâu phá ruộng ngô
  • - Trả lời các vấn đề về Luật Quốc Tịch

 

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

9
6
9
4
4
7
1
Tìm kiếm